thế hệ z là gì

Thế hệ Z – Thế hệ internet sẽ định nghĩa lại thế giới

Thế hệ-Z (Gen-Z) là gì?

Thế hệ-Z ra đời sau năm 1995 và họ được coi là tương lai của nền kinh tế toàn cầu, đơn giản vì họ sẽ là lực lượng lao động và tiêu thụ chủ chốt. Thế hệ này sẽ là nhóm người tiêu dùng lớn nhất trên toàn thế giới. Tại Hoa Kỳ, Châu Âu và BRIC tuyên bố họ sẽ chiếm tới 40% người tiêu dùng và 10% ở phần còn lại của thế giới. Ngay cả bây giờ chúng rất quan trọng đối với nền kinh tế và các nhà tiếp thị, vì 93% mua hàng gia dụng bị ảnh hưởng bởi thế hệ-Z, đặc biệt là các dịch vụ và hàng hóa liên quan đến du lịch, thực phẩm, đồ gia dụng và đồ nội thất.

Tính cách đặc trưng

Hầu hết các thành viên của thế hệ-Z đã tiếp cận, sử dụng công nghệ kỹ thuật số từ khi còn trẻ và cảm thấy thoải mái với Internet và phương tiện truyền thông xã hội , nhưng không nhất thiết phải có trình độ kỹ thuật số.

Ngoài những đánh giá tích cực trên, thì những bậc lớn tuổi, những kẻ coi mình đã đủ trưởng thành và có khả năng phán xét thế hệ trẻ tuổi hơn. Có xu hướng đánh giá tiêu cực và đưa ra những thuật ngữ có phần xem nhẹ thế hệ-Z.

Trong một bài viết năm 2016 trên tờ The Australian, Helen Rumbelow nói rằng Thế hệ hoa tuyết (Generation Snowflake) đã bắt đầu như một thuật ngữ ở Hoa Kỳ. Theo Rumbelow, một số cha mẹ đã ấp ủ đứa con của mình như là “những hoa tuyết nhỏ quý giá”, mỗi người đều giống nhau nhưng cũng là duy nhất, hoặc “mọi người đều đặc biệt”. Thuật ngữ “thế hệ hoa tuyết” là một trong các từ của năm của từ điển Collins vào năm 2016. Collins định nghĩa thuật ngữ này là “những người trẻ tuổi (khoảng 20 tuổi) của những năm 2010, được xem là ít kiên cường hơn và dễ tự ái hơn các thế hệ trước.”

Cơ quan thống kê Canada đã lưu ý rằng nhóm này đôi khi được gọi là thế hệ Internet, vì đây là thế hệ đầu tiên được sinh ra sau khi Internet trở nên phổ biến.

Thế hệ-Z sẽ dẫn dầu xu hướng toàn câ

Tại Nhật Bản, nhóm thế hệ này được mô tả là Neo-Digital Natives, một bước vượt xa so với nhóm thế hệ trước – những người được mô tả là “Người bản địa kỹ thuật số”. Người bản địa kỹ thuật số chủ yếu giao tiếp bằng văn bản hoặc giọng nói, trong khi Neo-Digital Natives sử dụng video, điện thoại video và phim. Điều này nhấn mạnh sự chuyển đổi từ PC sang di động và chuyển văn bản sang video trong dân số kỹ thuật số mới (neo-digital).

Sự phát triển toàn cầu

Năm 2018, khi số lượng robot làm việc tiếp tục tăng, tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu giảm xuống 5,2%, thấp nhất trong 38 năm. Xu hướng hiện nay cho thấy sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và robot sẽ không dẫn đến thất nghiệp hàng loạt nhưng lại có thể tạo ra những việc làm đòi hỏi tay nghề cao. Tuy nhiên, để tận dụng tình huống này, người ta cần có một nền văn hóa và một hệ thống giáo dục thúc đẩy việc học tập lâu dài. Những kỹ năng cần rèn luyện lâu dài mà máy móc chưa thành thạo, như là làm việc nhóm và giao tiếp hiệu quả, sẽ rất quan trọng.

Khi sự tiến bộ công nghệ tiếp tục, sự xuất hiện hoặc đột phá của trí tuệ nhân tạo, robot, in ba chiều, công nghệ nano, điện toán đám mây, xe tự hành, trong số các lĩnh vực khác, là đỉnh cao trong cái mà nhà kinh tế Klaus Schwab gọi là “Cách mạng công nghiệp 4.0”, nhu cầu về những người lao động sáng tạo, có trình độ học vấn cao và có tay nghề cao tiếp tục tăng, cũng như thu nhập của họ. Mặt khác, nhu cầu về lao động lương thấp và tay nghề thấp, sẽ tiếp tục giảm. 

Theo Sparks và Honey, chuyên gia tư vấn của Mỹ, vào năm 2014, 41% Thế hệ Z dành hơn ba giờ mỗi ngày để sử dụng máy tính cho các mục đích khác ngoài việc học, tăng 19% so với năm 2004. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về việc liệu kết quả sẽ là liên quan sâu hơn về việc học và phát triển bản thân, hay sẽ trở nên kém hiệu quả khi bị phụ thuộc vào công nghệ và thiếu sự tự điều chỉnh, gây cản trở sự phát triển của trẻ em. Phụ huynh của Thế hệ Z lo ngại việc lạm dụng Internet, truy cập thông tin và hình ảnh không phù hợp cũng như các trang mạng xã hội nơi trẻ em có thể tiếp cận với mọi người trên khắp thế giới. Trẻ em thì cảm thấy khó chịu và phàn nàn về việc bố mẹ kiểm soát quá mức khi chúng sử dụng Internet.

Mạng xã hội

Việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội đã trở nên tích hợp vào cuộc sống hàng ngày của hầu hết người thuộc Thế hệ Z, với mục đích chủ yếu là nhằm giữ liên lạc với bạn bè và gia đình. Do đó, công nghệ di động đã khiến sự phát triển của mối quan hệ trực tuyến trở thành một chuẩn mực thế hệ mới. Thế hệ Z sử dụng phương tiện truyền thông xã hội và các trang web khác để tăng cường liên kết với bạn bè và phát triển thêm các mối quan hệ mới, tương tác với những người mà họ không gặp trong thế giới thực. Tuy nhiên, theo Twenge, một mặt tiêu cực của thiết bị di động đối với Thế hệ Z chính là việc ít “gặp mặt trực tiếp” hơn, do đó, họ cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi.

Tôi cần được tự do; Tôi cần là chính mình, ngày càng là chính mình, mỗi ngày.

Nghiên cứu nhóm tập trung (focus group) cho thấy rằng, dù thanh thiếu niên có thể bị làm phiền bởi nhiều khía cạnh của Facebook, họ vẫn sẽ tiếp tục sử dụng nó vì nó có sự tham gia rất quan trọng trong việc giao tiếp với bạn bè và đồng nghiệp. Twitter và Instagram đang trở nên phổ biến giữa các thành viên của Thế hệ Z, với 24% (và đang tiếp tục tăng) thanh thiếu niên có quyền truy cập Internet có tài khoản Twitter. Điều này một phần là do cha mẹ thường không sử dụng các trang mạng xã hội này. Snapchat cũng thu hút được Thế hệ Z vì video, hình ảnh và tin nhắn gửi nhanh hơn nhiều so với tin nhắn thông thường. Tốc độ và độ tin cậy là những yếu tố quan trọng khi các thành viên của Thế hệ Z lựa chọn nền tảng mạng xã hội. Nhu cầu giao tiếp nhanh này được thể hiện qua các ứng dụng Thế hệ Z phổ biến và việc sử dụng biểu tượng cảm xúc.

Một nghiên cứu của Gabrielle Borca phát hiện ra rằng, thanh thiếu niên năm 2012 có nhiều khả năng chia sẻ các loại thông tin khác nhau hơn so với thanh thiếu niên năm 2006. Tuy nhiên, họ sẽ thực hiện các bước để bảo vệ thông tin mà họ không muốn chia sẻ, cũng như thực hiện việc “theo dõi” người khác trên phương tiện truyền thông xã hội nhiều hơn là “chia sẻ”.

Bởi vì nhìn nhận trước được tiềm năng của thế hệ-Z, các thương hiệu lớn đang cố gắng phân tích thái độ, xu hướng của thế hệ-Z

Vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 và đại suy thoái đã ảnh hưởng rất lớn đến thái độ của thế hệ này ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, không giống như những Millennial lớn tuổi hơn, Thế hệ Z có rất ít ký ức về vụ tấn công khủng bố 11/9. Vì những người lớn tuổi nhất trong nhóm này chưa nhận thức được khi vụ tấn công khủng bố 11/9 xảy ra (hoặc thời điểm đó họ chưa được sinh ra) nên thế hệ này không có ký ức về khoảng thời gian Hoa Kỳ ở trong cuộc chiến với các lực lượng không xác định của khủng bố toàn cầu.

Có tồn tại cảm giác bất ổn và bất an giữa những người thuộc Thế hệ Z với môi trường họ được nuôi dưỡng. Suy thoái kinh tế năm 2008 là sự kiện lịch sự đặc biệt quan trọng với Thế hệ Z, do lúc nhỏ họ có thể bị ảnh hưởng bởi cảm nhận của bố mẹ về áp lực tài chính từ khủng hoảng kinh tế. Một khảo sát năm 2013 bởi Ameritrade cho thấy 47% người ở Hoa Kỳ (từ 14 đến 23 tuổi) quan tâm đến nợ sinh viên, trong khi 36% lo ngại về khả năng chi trả tất cả chi phí cho Đại học. Thế hệ này phải đối mặt với khoảng cách thu nhập ngày càng tăng và tầng lớp trung lưu bị thu hẹp, tất cả dẫn đến tăng mức độ căng thẳng trong gia đình. Theo Hiệp Hội quan hệ công chúng Hoa Kỳ, cuộc đại suy thoái đã dạy có Thế hệ Z trở nên tự lập, và dẫn đến một mong muốn kinh doanh sau khi thấy ba mẹ và các thành viên lớn hơn phải vật lộn trong lực lượng lao động.

Thế hệ-Z là những kẻ bản địa kỹ thuật số thực sự: từ khi còn trẻ, họ đã được tiếp xúc với internet, mạng xã hội và hệ thống di động. Bối cảnh đó đã tạo ra một thế hệ siêu nhận thức rất thoải mái với việc thu thập và tham khảo chéo nhiều nguồn thông tin và tích hợp các trải nghiệm ảo và ngoại tuyến.

Khi kết nối toàn cầu tăng vọt, sự thay đổi thế hệ có thể đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thiết lập hành vi so với sự khác biệt về kinh tế xã hội. Những người trẻ tuổi đã trở thành một người có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi người ở mọi lứa tuổi và thu nhập, cũng như cách những người đó tiêu thụ và liên quan đến các thương hiệu.

Tìm kiếm sự thật về thế hệ-Z

Và những nghiên cứu đã đưa ra các nhận xét, đánh giá (mặc dù chỉ là những phỏng đoán dựa trên số liệu và cách tư duy của thế hệ đi trước, chưa chắc đã phản ánh chân thật và toàn vẹn về thế hệ-Z) như sau:

Gen Z coi trọng hiệu quả, sự thực dụng được đánh giá cao. Họ tin tưởng sâu sắc vào hiệu quả của cuộc đối thoại để giải quyết xung đột và cải thiện thế giới.

Sự thật 1: ‘ID không xác định’: Thể hiện sự thật cá nhân

Tôi cần được tự do; Tôi cần là chính mình, ngày càng là chính mình, mỗi ngày. Với internet, tôi cảm thấy tự do hơn nhiều. 
Người trả lời của người Viking, 22 tuổi, thành phố São Paulo

Tôi thực sự thích những thứ là unisex! Tôi nghĩ thật phi lý khi các cửa hàng và thương hiệu chia mọi thứ thành nam và nữ. Rốt cuộc, vải vóc là không giới tính. 
Người trả lời của người Viking, 22 tuổi, Goiânia

Đối với Gen-Z, điểm mấu chốt không phải là tự xác định thông qua một khuôn mẫu mà là để các cá nhân thử nghiệm các cách khác nhau của bản thân và định hình bản sắc cá nhân theo thời gian. Về mặt này, bạn có thể gọi họ là những người du mục bản sắc.

Sự thật 2: Tôn giáo

Bảy mươi sáu phần trăm Gen-Z nói rằng họ theo tôn giáo. Đồng thời, họ cũng là thế hệ cởi mở nhất với nhiều chủ đề không nhất thiết phải phù hợp với niềm tin rộng lớn hơn của các tôn giáo đã tuyên bố của họ. Ví dụ, 20 phần trăm trong số họ không coi mình là người dị tính, trái ngược với 10 phần trăm cho các thế hệ khác. Sáu mươi phần trăm Gen-Z nghĩ rằng các cặp đồng giới sẽ có thể nhận con nuôi của họ nhiều hơn mười phần trăm so với những người ở các thế hệ khác.

Sự thật 3: các nhìn về giới tính

Tính trôi chảy của giới tính có thể là sự phản ánh rõ ràng nhất về ID không xác định của ID, nhưng đó không phải là duy nhất. Gen-Z luôn được kết nối. Họ liên tục đánh giá lượng thông tin và ảnh hưởng chưa từng có. Đối với họ, bản thân là nơi để thử nghiệm, thử nghiệm và thay đổi. Bảy trong số mười Gen Zers nói rằng điều quan trọng là phải bảo vệ các nguyên nhân liên quan đến danh tính, vì vậy họ quan tâm nhiều hơn các thế hệ trước là về nhân quyền; trong các vấn đề liên quan đến chủng tộc và sắc tộc; trong các vấn đề đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới; và nữ quyền.

Kết nối với những sự thật khác nhau

Mỗi chúng ta đều có phong cách và cách sống riêng, nhưng điều ràng buộc chúng ta là chúng ta chấp nhận và hiểu phong cách của mọi người. 
Người trả lời, 16 tuổi, Recife

Gen-Z không phân biệt giữa bạn bè họ gặp trực tuyến và bạn bè trong thế giới thực. Họ liên tục thay đổi giữa các cộng đồng thúc đẩy sự nghiệp của họ bằng cách khai thác với mức độ tiếp cận thuận tiện nhất có thể. Gen-Z coi trọng các cộng đồng trực tuyến vì chúng cho phép mọi người có hoàn cảnh kinh tế khác nhau kết nối và huy động xung quanh các nguyên nhân và lợi ích. 

‘Hiện thực’: Hé lộ sự thật đằng sau tất cả mọi thứ

Tôi không tin cuộc nói chuyện này về đầu tư vào giấc mơ và tất cả những thứ đó. Công việc là công việc. 
Người trả lời, 22 tuổi, Salvador, bang Bahia.

Gen-Z, với lượng thông tin khổng lồ theo ý của họ, có khả năng phân tích chuẩn xác hơn về các quyết định của họ so với các thành viên của các thế hệ trước. Sáu mươi lăm phần trăm Gen-Z trong cuộc khảo sát của chúng tôi nói rằng họ đặc biệt coi trọng việc biết những gì đang diễn ra xung quanh và kiểm soát. Thế hệ những người tự học này cũng thoải mái tiếp thu kiến ​​thức trực tuyến hơn trong các tổ chức học tập truyền thống.

Hơn nữa, Gen-Z đã được nâng lên tại thời điểm căng thẳng kinh tế toàn cầu, trên thực tế, cuộc suy thoái kinh tế lớn nhất trong lịch sử Brazil. Những thách thức này đã khiến Gen-Z trở nên ít lý tưởng hơn so với các thiên niên kỷ mà chúng tôi đã khảo sát. Nhiều Gen-Z nhận thức sâu sắc về sự cần thiết phải tiết kiệm cho tương lai và thấy sự ổn định trong công việc quan trọng hơn mức lương cao. Họ đã thể hiện sự ưu tiên cao đối với việc làm thường xuyên thay vì làm việc tự do hoặc bán thời gian, điều này có thể gây ngạc nhiên so với thái độ của millennials, chẳng hạn. Theo khảo sát, 42 phần trăm Gen-Z từ 17 đến 23 tuổi đã được tuyển dụng rất nhiều trong các công việc toàn thời gian hoặc bán thời gian hoặc là lao động tự do, tỷ lệ cao đối với những người trẻ tuổi.

Thế hệ-Z là những kẻ đa nhiệm thực sự, họ có thể làm nhiều việc một lúc mà vẫn đạt được hiệu quả đáng kinh ngạc.

Kết lại

Cốt lõi của Gen-Z là ý tưởng thể hiện bản sắc cá nhân. Do đó, việc tiêu thụ trở thành một phương tiện thể hiện bản thân, trái ngược với việc mua hoặc mặc các nhãn hiệu để phù hợp với các quy tắc của các nhóm. Được dẫn dắt bởi Gen-Z và millennials, người tiêu dùng qua các thế hệ không chỉ mong muốn các sản phẩm được cá nhân hoá hơn mà còn sẵn sàng trả giá cao cho các sản phẩm làm nổi bật cá tính của họ. 

Trong một thế giới minh bạch, người tiêu dùng trẻ tuổi không phân biệt giữa đạo đức của một thương hiệu, công ty sở hữu nó và mạng lưới đối tác và nhà cung cấp. Hành động của một công ty phải phù hợp với lý tưởng của nó và những lý tưởng đó phải thấm vào toàn bộ hệ thống các bên liên quan.

Người tiêu dùng Gen Z chủ yếu được giáo dục tốt về các thương hiệu và thực tế đằng sau chúng. Khi không, họ biết cách truy cập thông tin và phát triển quan điểm nhanh chóng. Ví dụ, nếu một thương hiệu quảng cáo sự đa dạng nhưng thiếu sự đa dạng trong hàng ngũ của chính nó, mâu thuẫn đó sẽ được chú ý.

The Economist đã mô tả Thế hệ Z là thế hệ có giáo dục, cư xử tốt, chịu căng thẳng và trầm tĩnh hơn so với thế hệ trước. Vào tháng 9 năm 2018, Jean Twenge thấy điện thoại thông minh và mạng xã hội đang một “iGen”, là thế hệ sinh sau năm 1995. Bệnh trầm cảm phổ biến ở Thế hệ Z hơn bất kỳ thế hệ nào trước đó, với nguyên nhân chính là do sự phụ thuộc vào công nghệ và trực tuyến ngày càng tăng và giảm sự tương tác trực tiếp.

Theo nghiên cứu đã nói ở trên của Varkey Foundation, giới trẻ rất hài lòng với cuộc sống cá nhân hiện giờ của họ (59%). Những người trẻ không hạnh phúc nhất đến từ Hàn Quốc (29%) và Nhật Bản (28%), trong khi những người trẻ hạnh phúc nhất đến từ In-đô-nê-xi-a (90%) và Nê-gi-a (78%). Để xác định được điểm số hạnh phúc chung cho mỗi quốc gia, các nhà nghiên cứu đã trừ đi tỷ lệ phần trăm những người nói rằng họ không hạnh phúc so với những người nói rằng họ hạnh phúc.

Nguồn hạnh phúc quan trọng nhất là sức khỏe thể chất và tinh thần (94%), có mối quan hệ tốt với gia đình của họ (92%) và bạn bè của họ (91%). Nhìn chung, trong những người được hỏi thì người trẻ hơn và nam giới có xu hướng hạnh phúc hơn. Niềm tin tôn giáo chiếm tỷ lệ thấp nhất (44%). Tuy nhiên, đó lại là một nguồn hạnh phúc lớn cho thanh niên từ In-đô-nê-xi-a (93%), Nê-gi-a (86%), Thổ Nhĩ Kỳ (71%), Trung Quốc và Bra-xin (đều 70%). Những lý do lớn nhất gây ra lo lắng và căng thẳng là tiền (51%) và trường học (46%); phương tiện truyền thông xã hội và quyền tiếp cận vào các tài nguyên cơ bản (như thực phẩm và nước) là hai yếu tố cuối của danh sách đều chiếm 10%. Mối quan tâm về thực phẩm và nước nghiêm trọng nhất là ở Trung Quốc (19%), Ấn Độ (16%) và In-đô-nê-xi-a (16%); người trẻ Ấn Độ được ghi nhận có nhiều khả năng căng thẳng do truyền thông xã hội (19%).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *